Giữ sắc đào Nhật Tân

Văn Hóa Việt Văn hóa làng nghề

Thứ 4, 15/01/2014 16h21

NETVIET - Là một người đã dành trọn cuộc đời mình với cái nghiệp bám đất, bao năm qua ông Chu Văn Tấn (Tây Hồ, Hà Nội) đã tô điểm cho biết bao mùa xuân. Câu chuyện về ông cũng là những nối lòng bày tỏ của bao người trồng đào Nhật Tân. 

 

 

Ảnh: news.zing.vn

 

Nhật Tân xưa có cả đồng và bãi. Dân làng sống chủ yếu bằng nghề trồng đào, hoa cảnh. Kỹ thuật trồng đào của người dân làng Nhật Tân thì không nơi nào bằng được. Từ việc ghép cành đào bích vào gốc đào quả để tạo ra cây đào lai gốc khỏe, mà hoa vẫn đẹp, đều, đến việc sửa tán tạo thành cây tán tròn cũng rất chuẩn. Ngay cả bí quyết “hãm đào” cho nở đúng vào dịp Tết Nguyên đán trong điều kiện thời tiết diễn biến thất thường thì chỉ có nơi đây là đạt đến độ “Muốn cho hoa nở ngày nào thì hoa nở ngày ấy”.

 

Những năm gần đây, do cơ chế thị trường, người dân Nhật Tân đã chuyển làng đào ra ngoài bãi sông Hồng, nhường chỗ cho những công trình hiện đại phục vụ sự phát triển chung của đất nước. Những mần non mới lại được reo lên, những cánh đào Nhật Tân bắt đầu sinh sôi, nảy lộc. Lạ đất, là nước, vậy mà đã thấm thoắt mấy chục năm trôi qua, đào Nhật Tân mỗi ngày lại càng  thêm sắc thắm. Và chiều nào người ta cũng thấy cụ Chu Văn Thịnh đi giữa hai lối đào ấy, như để tưởng niệm một thời đã qua và dõi theo thế hệ trẻ nối tiếp.

 

Cụ Chu Văn Thịnh, bố của ông Chu Văn Tấn nói: “Nhà tôi có 2 người con, một đứa ra ngoài còn một đứa ở nhà theo cái nghiệp trồng đào này. Nghề trồng đào vất vả lắm, phân gio rồi cỏ giả. Có năm được nhưng cũng có năm mất trắng. Khổ lắm. Như năm ngoái thì trúng nhưng năm nay gió rét thế này không biết có trúng không.”

 

Sự thay đổi đồng bãi nơi này là một lẽ tất nhiên và những thế hệ già như Cụ Thịnh không khỏi khắc khoải nhớ mong một thời cũng là lẽ thường tình. Bởi người ta đã chót yêu đào, gắn bó với đào cả đời thì sao tránh khỏi nỗi lòng đó. Và quan trọng, thế hệ trẻ sau này nối tiếp nghiệp trồng đào sẽ ra sao? Liệu có phát triển xứng danh với thương hiệu đào Nhật Tân mà bao năm nay cha ông họ đã gây dựng?

 

Chu Văn Tấn, người con trai của cụ Thịnh cho biết: “Ngày xưa chúng tôi làm ở dinh đào, nhưng từ ngày lấy dinh đào rồi lại lấy cái Cipucha thì dân mới bắt đầu chuyển ra bãi này làm. Cái nghề cây cảnh này Tết nào cũng có một lần nên theo là cứ theo thôi. Ngày xưa cũng trồng ít lắm, chủ yếu phục vụ khách Hà Nội thôi, bây giờ thì trồng nhiều hơn, phục vụ khách ở các tỉnh nữa.”

 

Cơ chế thị trường, đô thị hóa mỗi ngày một lâm le vùng đất này, nhưng người trồng đào thì không thể bỏ đào được. Xứng danh một thế hệ trẻ trong làng Nhật Tân, người đàn ông này với cái nghiệp bám đất trồng đào đã phải nỗ lực cố gắng rất nhiều. Người ta gọi ông là "Người nông dân chân đất", hay người nông dân "say" đào, "mê" đào. Nghề trồng đào dường như đã trở thành cái nghiệp vận vào thân tự bao giờ. Trong cái lạnh thấu da, thấu thịt của Hà Nội những ngày tiết đông, một mình ông vẫn lặn lội ở vườn đào, tìm cách ủ ấm cho những cánh hoa xuân bung nở. Mỗi cây đào đối với ông giống như một đứa trẻ nhỏ cần được sự quan tâm chăm sóc thật nhiều.

 

“Cái nghề này làm là vì đam mê, đam mê nghề cây cảnh , một năm chỉ có một lần. Mình đam mê nghề thì mình làm thôi, còn vì tiền thì ai cũng vì tiền, tiền cũng chỉ là một phần thôi, cái nghề của mình mới là chính, không ham mê không làm được. Có những lúc nắng mưa vẫn phải làm không nghỉ được. 50, 50 là tốt lắm rồi. Có năm được 5,7 trăm triệu nhưng cũng có năm thì chẳng được đồng nào. Thời tiết rét như thế này thì năm nay cũng chỉ mong trúng có 50, 50 thôi. Từ đầu vụ thì mưa nhiều nó ủng rồi nó cũng chết róc. Nắng quá tưới nhiều thì nó cũng muội. Làm cái này nhiều lúc cũng chán lắm, thiên tai đem đến như 4, 5 năm nay hỏng hết. Nghề khó khăn nhưng nó làm mình cảm thấy thư giãn, thoải mái.” – ông Tấn chia sẻ.

 

Đối với ông Tấn và những người con làng Nhật Tân, bãi đất bồi ven sông Hồng như một tài sản vô cùng quí giá. Bởi ông đã từng lựa chọn rất nhiều ngành nghề khác nhau, rồi vẫn lại quay về với cái nghiệp trồng đào. Năm 1997, nước ngập chôn vùi hàng nghìn hecta đào của dân làng Nhật Tân. Đau xót, nhưng đổi lại có đất phù sa màu mỡ. Hứa hẹn thêm một mùa đào tươi thắm hơn.

 

Người trồng đào như ông Tấn lại bắt đầu lại với con số không. Không nản lòng, không than vãn. Chỉ vài năm sau, hàng nghìn hecta trơn trụi cỏ mọc hoang dại đó có bàn tay cần mẫn đã biến thành một cánh dồng đào mênh mông bát ngát. Và chỉ tình yêu mãnh liệt với cây đào thì đào Nhật Tân mới sống lại như thế.

Để chuẩn bị đào tết thì hàng năm cứ đến những tháng ra riêng, người trồng đào phải lên tận Lạng Sơn, Sơn La,... để mua thêm những gốc đào rừng về cấy thêm vào vườn. Chăm bẵm, uốn nắn cả năm mới mong có đào chơi tết. Đôi khi, đào mua đã đắt về nhà lạ nước lạ đất lại chết thì uổng công. Nhiều người trong làng cũng vì thế mà bỏ nghề, chỉ người say mê lắm mới tiếp tục.

 

Chỉ cần có tình yêu mãnh liệt với nghề thì có lẽ nghề cũng chẳng phụ công người. Câu chuyện nghề của ông Tấn cũng là tâm sự của biết bao con người đã chót yêu và theo nghiệp bám đất trồng đào.

 

Khương Phương