Mộc mạc nồi đất Trù Sơn

Văn Hóa Việt Văn hóa làng nghề

Thứ 5, 16/01/2014 15h10

NETVIET - Trù Sơn - một ngôi làng đầy nắng và gió của mảnh đất xứ Nghệ, một ngôi làng trải qua bao thăng trầm thời gian vẫn lưu truyền nghề làm nồi đất của cha ông.

 

 

Khéo tay mới lấy được chồng

 

Cuộc sống vất vả, nghề có khi tàn lụi, có lúc nở hoa nhưng vẫn còn đó những người thợ nặng lòng với nghề của ông cha. Chị Nguyễn Thị Xuân đã gắn bó với nghề nồi đất suốt hơn 30 năm nay, từ khi còn là một cô bé 10 tuổi. Ở đây, đàn ông chỉ đi gánh đất, bán nồi, còn người phụ nữ đảm nhiệm toàn bộ công việc làm nồi. Không qua trường lớp đào tạo, không học từ sách vở, nghề làm nồi đất được mẹ truyền cho con, bà truyền cho cháu như một lẽ tự nhiên. Những chiếc nồi đất do bàn tay khéo léo của các cô gái làm ra cũng trở thành tiêu chí lựa chọn bạn đời cho những chàng trai trong làng.

 

Ông Nguyễn Vĩnh Khang, huyện Yên Thành, Nghệ An cho biết: “Những người phụ nữ mà biết làm nồi thì dễ lấy chồng, do quê hương vất vả, không có công ăn việc làm, nên phải làm nồi giỏi mới có người yêu, mới lấy được chồng. Cái nghề làm nồi này không phải ai cũng làm được, những người phụ nữ vụng tay thì không làm được.”

 

Đất vẫn là đất, chỉ có đôi bàn tay người thợ là biến đổi từ vụng về thuở ban đầu đến mịn màng mềm dẻo. Bởi làm nồi không khó, nhưng phải thật khéo tay và kiên trì thì sản phẩm mới đạt yêu cầu. Khi đã thành thuộc với đất, từ đôi bàn tay này những chiếc nồi, những chiếc siêu lần lượt ra đời hòa vào cuộc sống thường nhật.

 

Chị Nguyễn Thị Xuân, làng Trù Sơn, Đô Lương, Nghệ An chia sẻ: “Nghề làm nồi có từ thời cha ông, lúc bé 10, 12 tuổi là đã bắt đầu tập làm, mẹ làm thì dạy con làm. Trời nắng thì mới làm được, mới gọt, cạo nồi được, trời mưa thì khó làm và không được năng suất.”

 

Gốm ở Trù Sơn có lẽ là loại gốm còn giữ được những nét cơ bản nhất của gốm cổ. Không chỉ vì nó được làm thủ công mà trong từng khâu, từng công đoạn đều đơn giản, không cầu kỳ, và những chiếc nồi đất tuy nhẹ, mỏng, nhưng khá cứng.

 

Để có được loại đất ưng ý, người Trù Sơn phải xuống Nghi Văn (Nghi Lộc) và lên tận Sơn Thành (Yên Thành), những nơi có loại đất sét màu đỏ, dẻo và đẹp, thích hợp cho việc làm gốm.

 

Đất sau khi lấy về sẽ được những người phụ nữ nhồi kỹ trước khi cho lên bàn xoay để tạo ra những hình dáng thô sơ ban đầu của những chiếc nồi, chiếc siêu. Khi đã làm xong phần thô, những chiếc nồi sẽ được bàn tay khéo léo của người thợ gọt lại cho thật trơn và đem đi phơi nắng, trước khi đưa vào lò nung. Làm ngày nắng, ăn ngày mưa, nghề cũng phụ thuộc thời tiết như người nông dân nắng làm mưa nghỉ và nghề nồi đất cũng vì thế mà lúc nhộn nhịp khi đìu hiu.

 

Để có được mẻ gốm đạt chất lượng, quan trọng nhất vẫn là khâu đun gốm. Những chiếc lò nơi làng Trù Sơn vẫn giữ nguyên nét truyền thống, được đun bằng lá bổi, lá thông và bên ngoài phủ một lớp rơm giữ nhiệt.

 

Nồi đất được đun liên tục trong vòng 4 đến 5 tiếng. Tuy nhiên để cho gốm chín đều, không bị cháy hay non, người thợ phải biết cách "xem lửa" để biết thời điểm nào lửa nhỏ, thời điểm nào lửa to và lúc nào cần dừng lại.

 

Bà Nguyễn Thị Tỵ, Trù Sơn, Đô Lương, Nghệ An cho rằng: “Khó nhất là lúc xếp nồi vì nếu xếp không khéo dễ bị sập. Lò gốm tí cháy hết những cái mùn, ra màu than khác khác thì lúc ấy đã chín và nồi lúc ấy rất chắc chắn.”

 

Một chiếc nồi tốt thường phát ra tiếng đanh, chắc khi gõ và có màu đỏ tươi bắt mắt.

 

Vất vả nghề làm nồi đất

 

Nghề nồi đất cũng vất vả như cuộc sống của người dân nơi đây, trải qua hàng trăm năm tồn tại, vẫn lưu giữ trong nó cái chân chất của hơi đất, cái nồng nàn của hơi lửa và những câu chuyện về sự vất vả của những ngày thồ nồi đi bán dạo.

 

“Cái nghề làm nồi có hàng trăm năm rồi, hàng nghìn năm rồi, chúng tôi lớn lên đã có rồi. Người dân làng nghề ở đây họ vất vả lắm, mà trời nắng quá cũng không làm được, mưa cũng không làm được, chỉ có thời tiết thuận mới làm được. Ngày xưa, người làm nồi đất rất đông, bây giờ bỏ nhiều rồi, chỉ còn những con người vất vả mới làm thôi.” -Ông Nguyễn Vĩnh Khang, Yên Thành, Nghệ An nói.

 

Những chuyến xe thồ mang theo chiếc nồi đất quê hương cứ âm thầm, chậm rãi, lặn lội suốt ngày đêm tới các vùng miền xa xôi dường như đã trở thành hình ảnh đẹp, thân thuộc và cũng là minh chứng cho sự cần cù vất vả của những con người nơi miền quê nghèo đầy nắng và gió. Một chuyến đi bán trong khoảng bảy ngày, đi từ làng này sang làng khác. Cứ đi bộ như thế, sớm đi trưa nghỉ, trưa đi tối nghỉ, đi tới đâu nghỉ tới đó.

 

Niêu to nấu cơm, niêu nhỏ kho cá và siêu đất thì dùng sắc thuốc, những sản phẩm một thời quen thuộc gắn bó với mỗi gia đình, nay không còn thịnh vượng như xưa, nhưng vẫn còn đó khá nhiều người gắn bó với nghề.

 

Đất Trù sơn, người trù sơn, tất cả dù trải qua khó khăn thì nghề vẫn nối tiếp nghề, những bàn tay vẫn nối tiếp bàn tay và những thế hệ người dân nơi đây vẫn miệt mài bám trụ như một sự tri ân với nghề của tổ tiên.

 

Em Lê thị Tố Như – Xã trù sơn, Đô Lương, Nghệ An nói: “Làm nồi rất khó, mẹ dạy phải làm nồi tròn và mỏng, sau này em ước học giỏi để làm quê hương tươi đẹp hơn.”

 

“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,

Nhớ nồi cơm nguội, nhớ niêu nước chè”.

 

Từ xưa, những chiếc nồi đất đã gắn bó với cuộc sống của người Việt, đã trở thành hình ảnh dân dã, mang đậm dấu ấn hồn quê.  Đến nay, trải qua bao thế hệ người Trù Sơn, dù thăng trầm hay hưng thịnh, cái màu đất mộc mạc này dường như làm chậm lại sự ồn ã của cuộc sống hiện đại, và cũng chính màu ấy đã níu chân những người thợ mãi say nghề say đất.

 

Trang Nhung